LOADING...

Posts Tagged "Đánh giá nhanh"

11Aug

Đánh giá nhanh IJC

by Cuong Hoang Manh
KQKD2015201620172018Quý 1/2019Quý 2/2019
Doanh thu thuần686,1531,970,555971,2431,245,788261,599365,712
Lợi nhuận gộp273,106355,653424,849468,724128,036192,393
LN thuần từ HĐKD131,170157,678219,382268,36482,490143,234
LNST của CĐ cty mẹ122,021127,982185,825232,98668,928116,737

Hoạt động kinh doanh chính mang về doanh thu và lợi nhuận ổn định, không có đột biến qua các năm. Sang năm 2019 có một số khởi sắc. Ghi nhận tăng trưởng đột biến trong quý 1 và quý 2/2019. Cụ thể, quý 1/2019 doanh thu giảm 25.8%, LNST tăng 27%. Quý 2/2019 doanh thu tăng 13.4%, LNST tăng 56%. Biên lãi gộp tăng trưởng mạnh từ mức 30% (quý 1/2018) lên 52% (quý 2/2019). Phần dưới đây sẽ làm rõ về chất lượng lợi nhuận của IJC.

Đáng lưu ý nhất là khoản mục hàng tồn kho hơn 5.000 tỷ. Cần làm rõ thêm:

  1. Chất lượng hàng tồn kho?
  2. Thời gian tồn kho chính xác (từ năm nào)?
  3. Giá vốn chính xác hiện tại?

Riêng khoản tồn kho của dự án Đông Đô Đại Phố mở bán từ 2011 – đúng đỉng của chu kỳ BĐS, hiện tại tồn kho ghi nhận 2.333 tỷ đồng. Trong bối cánh thị trường BĐS có 2 năm 2017 – 2018 tăng trưởng rất tốt, tồn kho của dự án vẫn còn nguyên à đặt dấu hỏi về khả năng thu hồi vốn của dự án nêu trên.

Làn sóng FDI đầu tư vào tỉnh Bình Dương trong 2 năm gần đây khiến tình hình bất động sản “nóng” lên rõ rệt, nhưng ở phân khúc bất động sản khu công nghiệp, nhà ở dân cư, người lao động. Tuy nhiên ở phân khúc mà IJC đầu tư (biệt thự nhà phố, bất động sản trung – cao cấp) tốc độ tiêu thụ cần kiểm chứng lại.

Tiếp theo là các khoản phải thu:

Phải thu khách hàng duy trì quanh mức 700 – 900 tỷ ở các kỳ báo cáo. Cho thấy chính sách bán hàng dễ dãi khi mà đặc thù kinh doanh của công ty là thu tiền ngay, ngoại trừ lĩnh vực xây dựng.

Chất lượng lợi nhuận:

Hiện nay doanh thu chủ yếu đến từ dự án Sunflower. Riêng trong năm 2018, doanh thu BĐS đạt 543 tỷ, chủ yếu đến từ việc bán 39 căn biệt thự với diện tích bình quân 360m2/căn. Thêm các dự án Phố thương mại IJC, TH1 Hòa Lợi, dự án tại khu vực Tân Uyên như D3, D9, D43. B43, A59, A13, VSIP Suối Tre Tân Bình ấp 4, dự án G10 Bàu Bàng – Thị xã Bến Cát.

Tuy nhiên, điểm bất thường là khoản tiền đặt cọc cho các dự án là rất nhỏ (chỉ 22 tỷ), quá nhỏ so với quy mô của dự án.

Doanh thu lũy kế 6th2019 giảm 7% so với cùng kỳ nhưng lợi nhuận tăng trưởng mạnh 44% nhờ biên lợi nhuận cải thiện mạnh (giá đất tăng nóng). Cho thấy doanh nghiệp không phát triển chiều rộng (doanh thu không tăng) mà được hưởng lợi nhờ giá đất tăng à giá bán tăng. Trong thời gian sốt đất, số sản phẩm bán ra không tăng, chỉ có giá bán tăng à cần xem xét.

Tiếp theo, tính bền vững của tăng trưởng này… phụ thuộc hoàn toàn vào giá đất tại Bình Dương.  Khả năng duy trì mức tăng giá đất như hiện tại đến hết 2019 – 2020 là điều khó đánh giá (chỉ bằng việc ngồi đọc báo).

Cuối cùng, tốc độ tái đầu tư và mở bán mới của doanh nghiệp (để tận dụng cơ hội này) chúng tôi đánh giá là không cao khi nhìn tình hình tài chính với tỷ lệ tiền mặt thấp (300 tỷ đồng). Các dự án này cũng là các dự án từ nhiều năm trước, không tránh khỏi việc hoang phế, xuống cấp nếu không có chi phí duy trì (không thấy điều này trong báo cáo tài chính).

Khả năng chiếm dụng vốn:

Liên quan đến cơ cấu cổ đông hiện tại với tỷ lệ sở hữu 78.8% của Becamex. Khoản tồn kho của công ty được tài trợ bằng nguồn vốn vay từ công ty mẹ (2889 tỷ) và vay nợ ngắn hạn khoảng 1500 tỷ. Nhờ đó giúp giảm bớt áp lực tài chính trong thời gian “kẹp hàng”.

KẾT LUẬN

Với những đánh giá ngắn trên đây, chúng tôi cho rằng những phân tích đánh giá về tiềm năng của IJC còn nhiều sai số và cần khảo sát thực tế để làm rõ những nghi vấn. Nếu với một “khu đất vàng” quy mô 5.000 tỷ (được đánh giá lại trên 10.000 tỷ) mà khoản đặt cọc trước của khách hàng chỉ 22 tỷ đồng, thì là một…dấu hỏi RẤT LỚN

Tải bản phân tích đầy đủ tại : https://drive.google.com/open?id=14dUnspQ0Cctef9fcF_UYYxsQ2Tsgr2sp

1Aug

Đánh giá nhanh KQKD Q02/2019 của FPT

by Cuong Hoang Manh

Các khoản mục đáng chú ý:

FPT hiện tại đã công bố báo cáo tài chính Quý 2 nhìn chung trong kỳ kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khá tốt với doanh thu tăng 24,69% lợi nhuận sau thuế tăng 29,92%, biên lợi nhuận gộp tiếp tục tăng từ 36,5% lên 37,7% (yoy) , biên lợi nhuận ròng tăng từ 13,8% lên 14,4% (yoy) đây cũng là kỳ cho thấy rõ nét nhất kết quả hoạt động kinh doanh sau giai đoạn cơ cấu và chuyển đổi từ năm 2018 đến nay.

Doanh thu tăng trưởng trở lại trong nửa đầu năm 2019 , Quý 1/2019 tăng 19%, Quý 2/2019 tăng 24,69% sau giai đoạn tái cơ cấu thoái vốn tại FPT shop và không còn hợp nhất KQKD nữa thì doanh thu đã trải qua thời kỳ suy giảm mạnh đến 46% trong năm 2018, tuy nhiên với quan sát của chúng tôi đây là những bước đi phù hợp của doanh nghiệp giảm hoạt động từ các mảng không hiệu quả, chuyển sang các mảng kinh doanh tiềm năng với mức sinh lời tốt hơn điều này đang dần được thể hiện thông qua kết quả kinh doanh bán niên của FPT, bắt đầu đánh dấu giai đoạn mới có tốc độ tăng trưởng mạnh kể từ 2012 đến nay.

Đóng góp vào sự tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận của FPT trong nửa đầu năm 2019 chủ yếu đến từ khối công nghệ đóng góp chính là doanh thu Dịch vụ CNTT nước ngoài với tốc độ tăng trưởng 37,8%. Lợi nhuận khối công nghệ tăng trưởng 44,4% đặc biệt trong đó có mảng chuyển đổi số đây là mảng mới tiềm năng lớn ( Quy mô thị trường chuyển đổi số hiện tại đang là trên 1.600 tỷ USD và tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm dự báo hai con số, dự báo trong năm 2019 thị trường này tiếp tục tăng trưởng 16,7%) mảng chuyển đổi số hiện đang đóng góp 34% tổng doanh thu dịch vụ CNTT nước ngoài và tăng trưởng 40,9%. Mảng viễn thông chiếm 39% doanh thu toàn công ty và tăng trưởng 17.4% ( Doanh nghiệp đang có định hướng giảm tỷ trọng doanh thu mảng viễn thông và tăng doanh thu mảng Công nghệ và giáo dục) LNTT mảng viễn thông đang tăng trưởng 14,4% đây là mảng thâm dụng vốn và hiện có tốc độ tăng trưởng dự báo duy trì ở mức độ ổn định

Biên lợi nhuận gộp tiếp tục được cải thiện: tăng từ 36,5% lên 37,7% so với cùng kỳ với doanh thu lớn như FPT thì đây là mức tăng khá đáng kể, tỷ trọng các mảng kinh doanh thay đổi, đặc biệt là mảng công nghệ trong đó có mảng chuyển đổi số với hàm lượng chất xám trong mỗi sản phẩm cao hơn đã tác động tích cực lên biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Định hướng của doanh nghiệp là hướng đến việc trở thành doanh nghiệp tư vấn trong chuyển đổi số như vậy giá trị gia tăng sẽ tăng cao so với trước.

Tình hình quản lý công nợ của doanh nghiệp cũng đang có dấu hiệu cải thiện theo hướng tích cực, phải thu ngắn hạn tăng 18,5% trong khi doanh thu Quý 2/2019 tăng 24,6%, cấu trúc tài chính vẫn duy trì ở mức tốt Tổng Nợ/tổng tài sản ở mức 0.48 lần.

KẾT LUẬN

Với kết quả kinh doanh trong nửa đầu năm 2019 chúng tôi dự báo trong quý 3 lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp sẽ đạt khoảng  1103-1160 tỷ,với mức tăng trưởng dự kiến từ 24-30% so với cùng kỳ. EPSf trong vòng 1 năm tới ở mức 6000đ/cp. Với dư địa của ngành công nghệ và mảng chuyển đổi số còn rộng mở. Vùng định giá hợp lý trong vòng 1 năm tới là 60.000-83.000/cp .

Tải bản phân tích đầy đủ tại: https//drive.google.com/open?id=1YI0AzJxCLns-QeKpX8-qmbyl1fGo0qAV

1Aug

Đánh giá nhanh KQKD Q02/2019 của PNJ

by Cuong Hoang Manh

Các khoản mục đáng chú ý:

  1. Doanh thu và lợi nhuận sau thuế lần lượt là 2.983 và 169 tỷ đồng, tương ứng giảm 8% và 6% so với cùng kì.
  2. Nguyên nhân sụt giảm của PNJ trong quý này chủ yếu đến từ việc công ty chuyển sang hệ thống ERP mới vào  27/3, dẫn đến tình trạng thiếu hàng , ảnh hương đến tình hình sản xuất và buôn bán của doanh nghiệp . Trong 2 tháng 4 và 5, lợi nhuận sau thuế của PNJ sụt giảm 28%, tuy nhiên kết thúc quý 2, lợi nhuận chỉ còn giảm 6% so với cùng kì, cho thấy từ tháng 6 trở đi, hoạt động của doanh nghiệp đã trở lại bình thường. Được biết, sự cố ERP khiến nhà máy của PNJ chỉ hoạt động với 50% công suất trong tháng 4/2019, con số này đã cải thiện lên 80% trong tháng 5 và 90% trong tháng 7. Do đó, quý 3 tới PNJ sẽ lấy lại đà tăng trưởng vốn có của doanh nghiệp. Hệ thống ERP vận hành ổn định sẽ thúc đẩy tăng trưởng của doanh nghiệp trong giai đoạn tiếp theo.
  3. Nhờ tỉ trọng đóng góp từ mảng bán lẻ gia tăng, PNJ tiếp tục duy trì được tỉ suất biên lợi nhuận gộp cao đạt 21%. Trong tương lai, khi mảng đồng hồ đóng góp nhiều hơn vào tỉ trọng doanh thu cũng sẽ giúp biên gộp của PNJ cải thiện đáng kể.
  4. Tồn kho tiếp tục đạt mức cao nhất trong lịch sử khi PNJ duy trì việc mở thêm cửa hàng, đạt 4.931 tỷ đồng. Nợ vay ngắn hạn tăng 343 tỷ khi vừa phải tài trợ cho tồn kho lẫn gia tăng sở hữu các mặt bằng bất động sản để kinh doanh.

KẾT LUẬN

Với những đánh giá ngắn trên đây, chúng tôi dự báo quý 3 này doanh thu PNJ sẽ đạt khoảng 3600-3800 tỷ, tăng trưởng 15-20% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế sẽ đạt khoảng 212-221 tỷ đồng, tương ứng tăng 20-25% yoy. Với EPS 4 quý gần nhất là 4.67, PNJ đang giao dịch ở mức PE 16.3.

Với dư địa của ngành trang sức còn rộng mở kết hợp với việc hệ thống ERP vận hành ổn định sẽ tạo nên những dư địa tăng trưởng mới cho doanh nghiệp. Vùng giá hợp lý cho cổ phiếu chúng tôi đưa ra trong vòng 1 năm tới là vào 81.000/cp-116.000đồng/cp.

Tải bản đầy đủ tại: https://drive.google.com/open?id=1rP7Q1qHUJWKT2ZnWrPE3jyvts-Xb2Hz2

31Jul

Đánh giá nhanh KQKD Q02/2019 của VCS

by Cuong Hoang Manh

Các khoản mục đáng chú ý:

  1. Doanh thu bắt đầu tăng trở lại (+17.5%) sau 3 quý đi ngang (quanh 1000 tỷ, gần như không có tăng trưởng – ngoại trừ quý 4/2018 đạt 1300 tỷ). Bóc tách chi tiết, doanh thu thành phẩm tăng hơn 31%, doanh thu nguyên vật liệu, phụ tùng giảm -54%, cùng với đó giá vốn hàng bán nguyên vật liệu, phụ tùng cũng giảm mạnh (103 tỷ). Nguyên nhân chủ yếu do doanh nghiệp giảm hoạt động bán nguyên vật liệu, phụ tùng.
  2. Doanh thu nội bộ tăng 42.6%. Đáng chú ý kỳ này có sự đột biến từ một đơn vị là công ty liên kết của Phenikaa (Cty Stylenquaza) khi doanh thu bán qua đơn vị này tăng 168 tỷ (cùng kỳ là 163 tỷ). Khoản phải thu từ Stylenquaza trong kỳ cũng tăng mạnh hơn 200 tỷ. Đây là công ty thành viên của tập đoàn Phenikaa, trụ sở tại Texas (Mỹ), chịu trách nhiệm bán hàng cho khu vực Bắc Mỹ.
  3. Các khoản phải thu tăng mạnh hơn 500 tỷ. Trong đó phải thu nội bộ tăng gần 350 tỷ (từ 630 tỷ lên 979 tỷ). Trọng số tập trung vào công ty Stylenquaza (tăng hơn 200 tỷ so với cùng kỳ) như nêu trên. Các khoản phải thu này được giải trình vẫn còn trong hạn thanh toán. Tức là chưa đủ điều kiện để kết luận phải thu khó đòi hoặc cần trích lập dự phòng.
  4. Doanh thu tài chính trong kỳ giảm 41%. Trọng số không đáng kể (6 tỷ).
  5. Ở chiều khác, chi phí tài chính giảm 47%. Nguyên nhân chủ yếu do lỗ chênh lệch tỷ giá giảm hơn 9 tỷ đồng. Điều này một phần ảnh hưởng từ chiến lược nội địa hóa nguyên liệu đầu vào mà Vicostone theo đuổi nhiều năm nay. Việc tự chủ nguyên liệu đầu vào đồng thời cũng làm giảm áp lực chi tiêu/sử dụng ngoại tệ của doanh nghiệp. Thuyết minh trang số 32 – 33 cũng nói rất chi tiết về sự ảnh hưởng của các khoản phải thu, phải trả và các khoản vay gốc ngoại tệ đến lợi nhuận trước thuế của VCS. Tài khoản ngoại tệ ròng âm 13 triệu USD so với cùng kỳ 2018 (âm 25 triệu USD) cho thấy rõ nhất sự thay đổi của việc nội địa hóa nguyên vật liệu đầu vào.
  6. Biên lợi nhuận gộp lên cao nhất từ trước đến nay (xấp xỉ 38%). Các kỳ trước, biên gộp cao nhất đạt gần 32%. Phù hợp với chiến lược nội địa hóa nguyên vật liệu -> chủ động đầu vào + tiết giảm chi phí mà VCS theo đuổi những năm gần đây. Một mặt, biên lợi nhuận cải thiện cũng do mặt bằng giá dầu quý 2/2019 giảm khoảng 18% so với quý 2/2018.
  7. LNST đạt hơn 410 tỷ,tăng trưởng 35.8% so với cùng kỳ. Trước đó, trong báo cáo ước KQKD quý 2/2019, VCS công bố mức lợi nhuận dự kiến 392 tỷ đồng (tăng trưởng 29.8% so với cùng kỳ). EPS 4 quý gần nhất đạt 8,120VNĐ/CP. VCS đang giao dịch quanh P/E 9 lần.
  8. Như vậy, câu chuyện đáng chú ý nhất trong kỳ này là (1) Biên lợi nhuận cải thiện mạnh mẽ nhờ giá dầu giảm và nội địa hóa nguyên vật liệu (2) Doanh thu nội bộ tăng trường mạnh kéo theo cả các khoản phải thu nội bộ tăng mạnh. Làm dấy lên lo ngại về việc điều tiết nội bộ để “làm đẹp báo cáo tài chính”. Tuy nhiên theo tìm hiểu về doanh nghiệp nhiều năm, phải khẳng định rằng doanh thu bán hàng nội bộ là đặc thù của VCS và tương đối minh bạch. Việc đánh giá chính xác về tính “sạch” của các khoản phải thu này chắc phải để các kỳ sau trả lời.

Sau “chiến tranh thương mại”, cơ cấu sản lượng xuất khẩu vào Mỹ từ các nhà cung cấp toàn Thế Giới có sự chuyển dịch mạnh mẽ. Trung Quốc từ nhà cung cấp đứng đầu có thời gian bị tụt xuống vị trí thứ 10 với mức giảm hơn 90% bất ngờ quay trở lại top 2 (mặc dù sản lượng xuất khẩu vào Mỹ vẫn giảm gần 60% so với cùng kỳ). Đến mức trang Stoneupdate dành hẳn tiêu đề “They’re back…” của report tháng 5 để ám chỉ về sự quay trở lại của Trung Quốc.

Việt Nam cũng có mức tăng trưởng ấn tượng trong các kỳ báo cáo gần nhất với mức tăng 98% trong tháng 4/2019 và 29% trong tháng 5/2019. So với con số tăng trưởng chung 7.4% của toàn thị trường Quazt surface. Trong các kỳ báo cáo gần nhất, Ấn Độ cũng nổi lên là một trong những quốc gia có sản lượng xuất khẩu sang Mỹ tăng trưởng đột biến. Không loại trừ khả năng các nhà sản xuất Trung Quốc thủ thuật thay đổi nguồn gốc xuất sứ hàng hóa để “lách luật”.

CƠ CẤU CỔ ĐÔNG VÀ CÁC THÔNG TIN LIÊN QUAN

Tính đến hết 30/06/2018, cổ đông lớn nhất đang là Phenikaa với 128 triệu cổ phần (tương đương 81.6%). Ngày 23/07/2019,  VCS cũng xin ý kiến cổ đông bằng văn bản về việc chia thưởng 3,2 triệu cổ phiếu quỹ được công ty mua vào trong năm 2018 (ở mức giá 75).

KẾT LUẬN

Với những đánh giá ngắn trên đây, có thể thấy Vicostone đang bước đầu quay trở lại bằng một quý với các chỉ tiêu chính (doanh thu thành phẩm, lợi nhuận ròng và biên lãi gộp) đều tăng trưởng trên 30%. Đáng chú ý  nhất là việc doanh thu tăng trưởng trở lại, trước những lo ngại về cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung có thể khiến các nhà sản xuất Việt Nam “vạ lây”. Nếu tốc độ tăng trưởng được duy trì trong các quý tiếp theo, VCS phù hợp với mức P/E tối thiểu 12 lần.

Quan điểm định giá có thể thay đổi bởi một trong số các nguyên nhân sau:

  1. Tốc độ tăng trưởng (doanh thu/lợi nhuận) sụt giảm trong các quý tiếp theo
  2. Biên lợi nhuận sụt giảm.
  3. Bất cứ biến cố nào làm ảnh hưởng đến thị trường kinh doanh chính của doanh nghiệp (rủi ro pháp lý, hàng rào thuế quan, …)
  4. Một sự bất cân đối về cơ cấu nợ vay.
  5. Thay đổi người lãnh đạo.

Tải bản phân tích đầy đủ tại : https://drive.google.com/open?id=1zTROO1i67xzLJG7bamxDh-MLuBesgmWB

Đánh giá nhanh BCTC QIII/2018 của PNJ

by Cuong Hoang Manh

Nối tiếp đà tăng trưởng hiện tại, chúng tôi dự phóng PNJ sẽ có 1 quý 4 tới tăng trưởng mạnh mẽ với doanh thu và lợi nhuận trước thuế lần lượt là 4200 và 375 tỷ đồng. Tương ứng với con số đó EPS 2018 sẽ là 6.130đ/cp, PE hợp lí 20-22 lần, giá mục tiêu đến cuối năm của PNJ sẽ khoảng từ 122.000đ/cp- 135.000đ/cp.

Read More